Korean Air
|
Korean Air Đại Hàn Hàng không 大韓航空 Daehan Hanggong |
||
|---|---|---|
|
IATA KE |
ICAO KAL |
Tên hiệu KOREANAIR |
| Thành lập | 1962 (tư nhân hóa năm 1969) | |
|
Các trạm trung chuyển chính |
Incheon Int'l Airport Sân bay quốc tế Gimpo |
|
|
Các điểm đến quan trọng |
Sân bay quốc tế Gimhae Sân bay quốc tế Jeju |
|
|
Chương trình hành khách thường xuyên |
SKYPASS | |
|
Phòng khách dành cho thành viên |
Sảnh của Korean Air | |
| Liên minh | SkyTeam | |
| Số máy bay | 122 (+62 đơn đặt hàng) | |
| Số điểm đến | 107 incl. cargo | |
| Công ty mẹ | Hanjin Group | |
| Khẩu hiệu | Excellence in Flight | |
| Tổng hành dinh |
|
|
| Nhân vật then chốt | Cho Yangho (Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành) | |
| Trang Web: http://www.koreanair.com | ||
Korean Air(Bản mẫu:Kse) (Korean Air Daehan Hanggong (Đại Hàn Hàng không) là hãng hàng không lớn nhất có trụ sở tại Hàn Quốc. Là một trong những hãng hàng không lớn nhất châu Á, hãng hoạt động trên các tuyến bay nối châu Âu, châu Phi, châu Á, Úc, Bắc Mỹ và trước đây là Nam Mỹ với Sân bay Quốc tế Incheon và trung tâm hoạt động nội địa của hãng ở Sân bay quốc tế Gimpo . Hãng này cạnh tranh với hãng nhỏ, có đội tàu bay trẻ hơn là hãng Asiana Airlines.
Trong những năm gần đây, Korean Air đã nâng cấp đội tàu bay và dịch vụ của mình và đã giành được nhiều giải thưởng và công nhận quốc tế. Với tình hình tài chính tốt trong năm 2005, Korea Air đã nhận được giải "Phoenix Award" (Giải thưởng Phượng Hoàng) từ Tổ chức Vận tải Hàng không Thế giới (Air Transport World (ATW) vì thành công của hãng trong việc vượt qua các thách thức trong ngành hàng không toàn cầu. Hãng này được độc giả của tạp chí Time bình chọn là một trong những hãng tốt nhất châu Á và hai lần nhận được giải Thủy Ngân (Mercury Award) về cung cấp dịch vụ trong chuyến bay.
Korean Air có một đơn vị cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá bằng đường hàng không lớn là Korean Air Cargo, đơn vị trong năm 2005 đã vượt Lufthansa để trở thành đơn vị kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không lớn nhất thế giới.
Duy nhất trong các hãng hàng không, Korean Air tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu và chế tạo không gian vũ trụ. Đơn vị này có tên là Ban Không gian Vũ trụ Đại Hàn Hàng không (Korean Air Aerospace Division (KAA), sản xuất phiên bản có giấy phép loại máy bay trực thăng MD 500 và UH-60 Black Hawk và loại máy bay chiến đấu F-5E/F Tiger II[1], thân đuôi và cánh của máy bay chiến đấu KF-16 được sản xuất bởi hãng Korean Aerospace Industries[2], và phụ tùng cho các loại máy bay thương mại bao gồm Boeing 737, 747, 777, và máy bay Airbus A330, và A380.[3] KAA cũng cung cấp dịch vụ hỗ trợ bảo dưỡng máy bay cho Bộ Quốc phòng Mỹ tại châu Á và duy trì một đơn vị nghiên cứu tập trung vào phương tiện phóng (launch vehicle), vệ tinh, máy bay quân sự và thương mại, máy bay trực thăng và các hệ thống mô phỏng.[4]
Lịch sử
Korean Air bắt đầu năm 1962 với tên gọi Korean Air Lines và thuộc sở hữu của Chính phủ Hàn Quốc. Hãng này thay thế hãng cũ của là Korean National Airlines. Năm 1969 KAL được Tập đoàn Vận tải Hanjin mua lại và trở thành công ty tư nhân.
Các chuyến bay đi Hồng Kông, Đài Loan, và Los Angeles được thực hiện bằng tàu bay Boeing 707 cho đến khi du nhập loại tàu bay Boeing 747 năm 1973. Năm 1973, KAL sử dụng Boeing 747 trên các tuyến Thái Bình Dương và bắt đầu phục vụ đi châu Âu đến Paris sử dụng loại 707 và DC-10. KAL cũng là khách hàng sử dụng Airbus đầu tiên ngoài châu Âu. Ngày 1 tháng 9 năm 1983, Chuyến bay số 007 của Korean Air Lines, cũng được gọi là KAL 007 hay KE007, đã bị các máy bay phản lực đánh chặn của Liên Xô bắn rơi ngay ở phía Tây của Đảo Sakhalin. Máy bay đang mang theo 269 hành khách và phi hành đoàn vào lúc đó, bao gồm có nghị sỹ Mỹ Lawrence McDonald. Không có ai sống sót. Liên Xô tuyên bố rằng họ không biết đó là tàu bay dân sự và cho rằng chiếc máy bay này đã đi vào không phận Liên Xô như một sự khiêu khích có chủ ý để thử khả năng phản ứng của Liên Xô.
A blue-top livery đã được sơn lên máy bay của hãng ngày 1 tháng 3 năm 1984 và tên của hãng đã được đổi thành Korean Air từ tên cũ Korean Airlines (Tuy nhiên, tên này vẫn được dùng trong các tài liệu chính thức). Màu sắc và logo này được sơn lên lần đầu lên chiếc Fokker F28 của hãng. Lo go và màu sắc này được thực hiện với sự hợp tác giữa Korean Air và hãng Boeing. Trong thập niên 1990 Korean Air đã trở thành hãng hàng không đầu tiên sử dụng máy bay MD-11 mới để bổ sung cho đội tàu bay mới của mình là những chiếc Boeing 747-400. Tuy nhiên, MD-11 không thoả mãn yêu cầu vận hành đã đặt ra. Do đó, những chiếc MD-11 của hãng đã được cải hoán thành máy bay vận tải hàng hóa (cùng với các máy bay vận tải hàng 747). Năm 1998, một cuộc khủng hoảng kinh tế đã tấn công Hàn Quốc dẫn đến việc giảm sút về hành khách và hàng hóa cũng như điểm đến của hãng. Hiện nay, Korean Air bay đến phần lớn các điểm đến ở Hoa Kỳ mà bất cứ hãng hàng không châu Á nào bay tới (10 passenger cities in the 50 states). Korean Air hiện sở hữu 25% cổ phần của hãng Okay Airways, một hãng hàng không có trụ sở ở Thiên Tân, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Korean Air cũng có ý định tạo ra một trung tâm hoạt động nữa ở Trung Quốc. Khoảng năm 1997, Korean Air đã thành lập hãng KAL Catering, việc lập hãng này khiến cho Korean Air rút khỏi các hợp đồng với LSG Sky Chefs và tạo một hợp đồng mới với servair.
Tháng 10 năm 2006, Korean Air đã giành được danh dự giải nhất của TIME Readers’ Travel Choice Awards 2006 cho hãng hàng không có hạng thương gia tốt nhất và và giải Best Frequent Flyer Program đối với chương trình Skypass của hãng. Korean Air cũng được xếp hạng nhì về thể loại hãng hàng không được ưu thích. Tạp chí TIME đã tiến hành thăm dò bạn đọc của mình để có giải thưởng TIME Readers’ Travel Choice Awards 2006 từ 24 tháng 4 đến 25 tháng 6 năm 2006.
Công tác đảm bảo an toàn
Từ giữa thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, hãng Korean Air đã có vấn đề về an toàn. Trên thực tế, liên minh SkyTeam đã có lúc trong một thời gian ngắn loại hãng Korean Air ra khỏi chương trình hợp tác chia chỗ của mình cho đến khi hãng đã chứng tỏ được khả năng đảm bảo an toàn của mình. Cục hàng không Dân dụng Liên bang Hoa Kỳ, cơ quan điều phối sự ra vào không phận Hoa Kỳ đã khuyến cáo đội ngũ quản lý của Korean Air rằng quyền vào không phận của hãng sẽ bị hạn chế trừ phi sắp tới hãng có những thay đổi quyết liệt. Quân đội Mỹ và Bộ Ngoại giao Mỹ đã khuyên công dân của họ tránh đi bằng máy bay của hãng Korean Air nếu các hãng thương mại khác sẵn sàng. Đối thủ cạnh tranh của hãng là Asiana Airlines, đã thu lợi kếch xù từ việc suy giảm uy tín của hãng Korea Air trong khi lý lịch về an toàn cra Asian tốt hơn.
Kể từ khi chuyển sang thế kỷ 21, Korean Air đã chứng tỏ những cải tiến mạnh mẽ về công tác an toàn và đã áp dụng các nguyên tắc hiện đại của CRM (Crew Resource Management). Tháng 10 năm 2006, Korean Air đã giành được giải nhất trong cuộc bình chọn của bạn đọc tạp chí TIME đã cho thấy hãng đã giành lại lòng tin của khách đối với mình.
Đội tàu bay
Đội tàu bay khách
Đội tàu bay khách của Korean Air đến tháng 3 năm 2007 gồm các loại tàu bay sau: :
| Tàu bay | Tổng |
Số khách (First*/Prestige*/Economy) |
Các tuyến | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Airbus A300-600 | 8 |
266 (24/242) 276 (24/252) |
Domestic, Fukuoka, Busan/Jeju-Nhật Bản, Trung Quốc |
To be phased out Replacement aircraft: Boeing 787 |
| Airbus A330-200 | 3 | 258 (6/18/234) |
International long haul châu Âu, Fiji, Việt Nam |
|
| Airbus A330-300 | 16 |
296 (12/28/256) 296 (24/272) 352 (24/328) |
Domestic/International short-medium haul Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á và Trung Đông |
|
| Airbus A380-800 |
(5 đơn) (3 options) |
Đưa vào sử dụng: 2010 | ||
| Boeing 737-700 | (1 đơn) | |||
| Boeing 737-800 | 14 |
149 (8/141) 164 (8/156) |
Domestic/International short-medium haul Trung Quốc, Đông Nam Á |
|
| Boeing 737-900 | 16 | 188 (8/180) |
Domestic/International short-medium haul Trung Quốc, Nhật Bản |
|
| Boeing 737-900ER | (4 đơn đặt hàng) | |||
| Boeing 747-400 | 24 |
333 (10/61/262) 335 (12/61/262) 376 (12/58/306) 384 (16/58/310) |
International long haul High-capacity short haul Bắc mỹ, Nhật Bản, Australia và châu Âu |
Will be converted to Freighter Replacement aircraft: Boeing 777-300ER Airbus A380-800 |
| Boeing 747-400C | 1 | 284 (48/236) | Hongkong, Thiên Tân | |
| Boeing 777-200ER |
12 (6 orders) |
261 (8/28/225) 301 (12/28/261) |
International long haul High-capacity short haul Bắc Mỹ, Australia, Nhật Bản, New Zealand và châu Âu |
|
| Boeing 777-300 | 4 | 376 (12/28/336) |
International long haul High-capacity short haul Đông Nam Á, Trung Quốc và Nhật Bản |
|
| Boeing 777-300ER | (10 đwon đặt hàng) | Bắc Mỹ | Thay thế: Boeing 747-400 | |
| Boeing 787-8 |
(10 đơn đặt) (10 options) |
Entry into service: 2009 Replacing: Airbus A300-600 |
*First Class is offered on domestic and short-haul Flights. Prestige Class is offered on international medium-long haul flights.
Đội tàu bay vận chuyển hàng hóa
Đến tháng giêng năm 2007, đội tàu bay vận chuyển hàng hóa của Korean Air Cargo bao gồm:
| Tàu bay | Tổng | Tuyến | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Airbus A300-600F | 2 | Converted to freighter from passenger service. | |
| Boeing 747-400F | 20 | ||
| Boeing 747-400BCF | (8 orders) | Converted to freighter from passenger service. | |
| Boeing 747-8F | (5 orders) | ||
| Boeing 777F | (5 orders) |
Tuổi trung bình của đội tàu bay hãng Korean Air là 7,5 năm tính đến tháng 2 năm 2007. Korean Air đang vận hãnh 100 máy bay chở khách, 20 máy bay chở hàng, tổng số 120 chiếc cho đến 14 tháng 12 năm 2006.
Ngày 31 tháng 5 năm 2005 Korean Air đã ký một thỏa thuận mua một chiếc Boeing 747-400ERF, chuyển đổi một lựa chọn trong năm 2004, mang đến tổng số các đơn đặt hàng mua máy bay của Korean Air lên 8, trong đó 5 đơn đã được giao hàng. Máy bay mới dự kiến bàn giao tháng 5 năm 2006[6]. Hãng cũng đang đặt hàng các loại tàu bay vận chuyển 747-8 và 777.
Korean Air Cargo đã được IATA xếp hạng nhất thế giới về hoạt động vận chuyển hàng bằng đường hàng không trong hai năm liên tục (2004-2005).
Đội tàu bay đã ngưng sử dụng
| Tàu bay | Năm dừng sử dụng | Thay thế | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Airbus A300B4-103 | 1997 | ||
| Boeing 707-320B | 1980s | ||
| Boeing 720-200 | 1993 | ||
| Boeing 727 | 1993 | ||
| Boeing 747-200 | 1998 | ||
| Boeing 747-200F | 2006 | Boeing 747-400ERF | |
| Boeing 747SP | 1998 | ||
| Boeing 747-300 | 2005 | Boeing 777-200ER | |
| Boeing 747-300C | 2006 | ||
| Douglas DC-3 | 1970s | ||
| Douglas DC-4 | 1970s | ||
| McDonnell Douglas DC-9 | 1973 | ||
| McDonnell Douglas DC-10-30 | 1996 | Selling to Northwest Airlines | |
| McDonnell Douglas MD-11 | 2005 | ||
| McDonnell Douglas MD-82 | 2005 | Boeing 737-800/900 | |
| McDonnell Douglas MD-83 | 2005 | Boeing 737-800/900 | |
| Fokker F27 Friendship | 1980s | ||
| Fokker F28 Fellowship | 1989 | ||
| Fokker F100 | 2005 | Boeing 737-800/900 | Selling to Iran Aseman Airlines |
| NAMC YS-11 |
SKYPASS
SKYPASS là chương trình khách hàng bay thường xuyên của hãng Korean Air. "SKYPASS" cũng thể hiện bằng thẻ xanh mà hãng Korean Air cấp cho khách hàng bay thường xuyên của hãng. Khẩu hiệu của SKYPASS là "Vượt quá tưởng tượng của bạn" được in trên thẻ. Chương trình này được áp dụng cho hành khách có số chiều dài tuyến bay trong một thời gian 3 năm đạt con số nhất định. Tiêu chuẩn để đạt được mức cao nhất đỉnh điểm của chương trình dựa trên số km bay trong đời đã bay cùng hãng, yêu cầu khách hàng bay 1 triệu dặm (1,6 triệu km). Đến mức đỉnh cao này thì thẻ hội viên SKYPASS là suốt đời.
Các thỏa thuận chia chỗ
Korean Air có các thỏa thuận hợp tác chia chỗ với các hãng sau (tháng 3/2007):
|
|
|
Korean Air là một thành viên sáng lập SkyTeam, liên minh các hãng hàng không lớn thứ hai thế giới.
![]() |
| Khoang thương gia Business Class của Hàng không Korean Airlines |
Korean Air là hãng hàng không lớn nhất có trụ sở tại Hàn Quốc. Là một trong những hãng hàng không lớn nhất châu Á, hãng hoạt động trên các tuyến bay nối châu Âu, châu Phi, châu Á, Úc, Bắc Mỹ và trước đây là Nam Mỹ với Sân bay Quốc tế Incheon và trung tâm hoạt động nội địa của hãng ở Sân bay quốc tế Gimpo . Hãng này cạnh tranh với hãng nhỏ, có đội tàu bay trẻ hơn là hãng Asiana Airlines. Trong những năm gần đây, Korean Air đã nâng cấp đội tàu bay và dịch vụ của mình và đã giành được nhiều giải thưởng và công nhận quốc tế. Với tình hình tài chính tốt trong năm 2005, Korea Air đã nhận được giải "Phoenix Award" (Giải thưởng Phượng Hoàng) từ Tổ chức Vận tải Hàng không Thế giới (Air Transport World (ATW) vì thành công của hãng trong việc vượt qua các thách thức trong ngành hàng không toàn cầu. Hãng này được độc giả của tạp chí Time bình chọn là một trong những hãng tốt nhất châu Á và hai lần nhận được giải Thủy Ngân (Mercury Award) về cung cấp dịch vụ trong chuyến bay.
Korean Air có một đơn vị cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá bằng đường hàng không lớn là Korean Air Cargo, đơn vị trong năm 2005 đã vượt Lufthansa để trở thành đơn vị kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không lớn nhất thế giới.
Duy nhất trong các hãng hàng không, Korean Air tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu và chế tạo không gian vũ trụ. Đơn vị này có tên là Ban Không gian Vũ trụ Đại Hàn Hàng không (Korean Air Aerospace Division (KAA), sản xuất phiên bản có giấy phép loại máy bay trực thăng MD 500 và UH-60 Black Hawk và loại máy bay chiến đấu F-5E/F Tiger II, thân đuôi và cánh của máy bay chiến đấu KF-16 được sản xuất bởi hãng Korean Aerospace Industries, và phụ tùng cho các loại máy bay thương mại bao gồm Boeing 737, 747, 777, và máy bay Airbus A330, và A380. KAA cũng cung cấp dịch vụ hỗ trợ bảo dưỡng máy bay cho Bộ Quốc phòng Mỹ tại châu Á và duy trì một đơn vị nghiên cứu tập trung vào phương tiện phóng (launch vehicle), vệ tinh, máy bay quân sự và thương mại, máy bay trực thăng và các hệ thống mô phỏng.



















Công Ty Cổ Phần TMDV Và Du Lịch Tam Vương


